Sài hồ nam là vị thuốc dân gian quen thuộc, còn gọi là Lức lá, thường dùng trong các trường hợp ngoại cảm phong nhiệt, sốt nhẹ, hơi rét, nhức đầu, khát nước và tức ngực khó chịu.
Hoàng bá giúp thanh nhiệt, táo thấp, giải độc và hỗ trợ các chứng thấp nhiệt ở tiết niệu, tiêu hóa hoặc ngoài da. Với vị rất đắng và tính hàn rõ, cần dùng đúng thể bệnh, đúng liều và không tự sử dụng kéo dài.
Huyền sâm giúp tư âm, giáng hỏa, lương huyết, giải độc và làm dịu cổ họng, xuất hiện trong nhiều bài thuốc cho sốt nóng, viêm họng, mụn nhọt, phát ban hoặc táo bón do nhiệt.
Bạch hoa xà thiệt thảo thuộc dạng thân thảo nhỏ, thân mảnh, nhiều cành là vị thuốc thường dùng trong y học cổ truyền giúp thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, tán ứ và tiêu ung.
Băng phiến là vị thuốc có mùi thơm mát, vị cay đắng và tính hơi hàn, giúp khai khiếu, thanh nhiệt, giảm đau và sát trùng khi dùng ngoài. Đây là dược liệu tác dụng mạnh, liều rất nhỏ.
Trinh nữ, còn gọi là cây xấu hổ hay cây mắc cỡ giúp an thần, thanh nhiệt, lợi tiểu và hỗ trợ đau nhức. Cây nổi bật với đặc điểm lá tự khép lại khi chạm vào.
Trúc diệp điều trị nóng trong, bứt rứt, khát nước, lở miệng hoặc tiểu ít do nhiệt, một số tài liệu cho thấy vị thuốc này có tác dụng làm mát và hỗ trợ đưa nhiệt đi xuống qua đường tiểu.
Bắc tử thảo giúp thanh nhiệt, làm mát cơ thể và hỗ trợ các biểu hiện ngoài da do nhiệt độc phù hợp với người phát ban, nổi mẩn hoặc cảm giác nóng tích lại bên trong.